Trong bối cảnh các tiêu chuẩn toàn cầu ngày càng khắt khe, liệu lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt chỉ nằm ở giá thành hay sản lượng?
Trao đổi với Tạp chí Nông thôn Việt, ông Nguyễn Đình Tùng (Chủ tịch HĐQT – Tổng Giám đốc Vina T&T Group, Phó Chủ tịch Ủy ban 2, Ban IV (Ban nghiên cứu phát triển chính sách tư nhân thuộc Chính Phủ), Chủ tịch Hội Sản phẩm Nông nghiệp Sạch TP.HCM, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam), cho rằng “vũ khí” mạnh nhất chính là bản sắc văn hóa địa phương kết hợp với quy trình sản xuất xanh.
Đồng thời theo CEO Nguyễn Đình Tùng, khi doanh nghiệp biết cách thổi hồn vào sản phẩm bằng câu chuyện của vùng đất và con người, nông sản Việt sẽ tự tin chuyển mình từ thế bị động sang chủ động dẫn dắt thị trường.

Hội nhập kinh tế Thế giới từ rất lâu, tại sao nông sản Việt vẫn bị động và lệ thuộc lớn vào một vài thị trường chủ lực? Đây là vấn đề về tư duy của doanh nghiệp hay sự thiếu hiệu quả của hệ thống dự báo và xúc tiến thương mại thưa ông? Làm thế nào để nông sản Việt Nam chuyển từ thế bị động sang chủ động mở rộng thị trường, giảm phụ thuộc vào một vài thị trường truyền thống và bắt nhịp tốt hơn với nhu cầu toàn cầu?
Là một Tập đoàn chuyên về xuất khẩu nông sản, đã đi qua chặng đường hơn thập kỷ, tôi nghĩ thành công đưa đến vị trí hàng đầu trong xuất khẩu nông sản nằm ở tư duy chủ động nắm bắt thị trường.
Trong nhiều năm, nhiều doanh nghiệp nông sản đã quen xuất khẩu theo cách “được mùa thì bán”, chưa thực sự coi dữ liệu thị trường là tài sản, tín hiệu thị trường là nhịp đập của hoạt động kinh doanh. Giờ đây, tôi xin đề xuất doanh nghiệp nên chú trọng phân tích thị trường, cập nhật biến động từng tuần, từng thị trường. Khi biết rõ nhu cầu, tiêu chuẩn và xu hướng tiêu dùng, chúng ta không chỉ xuất khẩu – chúng ta điều phối sản xuất.
Và khi doanh nghiệp chủ động dẫn dắt nông dân bằng thông tin, bằng dự báo, bằng hợp đồng dài hạn, thì sự lệ thuộc sẽ tự nhiên biến mất. Thị trường mở ra khi doanh nghiệp đủ hiểu và đủ dũng cảm để dấn thân.
Tại sao tồn tại nghịch lý “đẹp nhà, xấu chợ” – sản phẩm vượt qua mọi khâu kiểm định trong nước nhưng lại bị trả về vì vi phạm tiêu chuẩn? Phải chăng chúng ta đang kiểm soát “trên giấy” tốt hơn là “trên đồng ruộng”?
Trong 9 tháng đầu năm 2025, số lượng cảnh báo từ EU đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam giảm khoảng 50% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nỗ lực cải thiện chất lượng và tuân thủ quy định của các doanh nghiệp cũng như sát sao của cơ quan quản lý.
Tôi tin rằng những doanh nông Việt Nam theo đuổi hoạt động kinh doanh bền vững đều đang trong hành trình của mình, ngày càng hoàn thiện hơn chuỗi sản xuất từ khâu canh tác, sản xuất và phân phối.
Cụ thể tại Vina T&T Group, chúng tôi xây dựng hệ thống kiểm soát từ việc đồng hành cùng hộ nông dân trong việc canh tác, thu mua theo tiến độ và nhà máy sản xuất đạt các chuẩn quốc tế, đây là 1 chu trình khép kín đòi hỏi sự kiên trì và đầu tư dài hạn.
Khi một doanh nghiệp gian dối làm ảnh hưởng đến cả ngành hàng và uy tín quốc gia, tại sao chế tài của chúng ta vẫn chỉ dừng ở mức “nhắc nhở”, “rút kinh nghiệm” mà chưa đủ sức răn đe để bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính?
Doanh nghiệp chân chính cần được bảo vệ. Một lô hàng gian lận không chỉ làm mất uy tín một thương hiệu – nó làm tổn thương cả ngành hàng và cả quốc gia.
Chúng ta cần áp dụng chế tài mạnh hơn, xử lý nhanh, công khai minh bạch. Đồng thời xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nông sản, ai làm đúng sẽ được ưu tiên tiếp cận thị trường, tín dụng, chương trình xúc tiến.
Khi người tốt được ghi nhận, người sai phạm chịu trách nhiệm, bức tranh kinh doanh sẽ tự nhiên sáng lên.

Làm thế nào doanh nghiệp có thể đầu tư vào chế biến sâu và xây dựng thương hiệu khi vẫn bị kẹt giữa hai gọng kìm: chính sách tín dụng (tín dụng xanh, hoàn thuế VAT) chưa thông và liên kết vùng nguyên liệu lỏng lẻo (nông dân “bẻ kèo”)?
Tôi có nhiều cơ hội để chia sẻ với các doanh nghiệp trẻ rằng: “Đầu tư chế biến sâu không phải bước nhảy vọt – đó là hành trình đi từng nấc thang”.
Hãy bắt đầu từ những dự án nhỏ nhưng hiệu quả: kho thông minh, buồng sấy, nhà máy mini. Khi dòng tiền ổn định, chúng ta mới mở rộng.
Về nguyên liệu, giải pháp không phải chạy theo diện tích, mà là đồng hành thật sự với nông dân: chia sẻ rủi ro, cam kết mua dài hạn, cùng nhau làm ra sản phẩm họ tự hào.
Khi nông dân và doanh nghiệp coi nhau là đối tác thay vì bên mua – bên bán, “bẻ kèo” sẽ không còn là điều phải quá bận tâm.
Trước “luật chơi” mới của thế giới (Net Zero, CBAM), doanh nghiệp Việt Nam đang thực sự ở đâu – đã chuẩn bị, còn mông lung, hay đang đứng ngoài cuộc chơi? Ai sẽ hỗ trợ họ chi trả chi phí cho cuộc chuyển đổi này?
Thực tế, doanh nghiệp Việt chúng ta đang đi, chỉ khác nhau ở tốc độ. Nhiều tập đoàn đã bắt đầu đo khí thải, đầu tư năng lượng sạch, tối ưu bao bì…
Nhưng để bước đi nhanh hơn, Doanh nghiệp cần thêm nguồn lực hỗ trợ, từ ngân hàng xanh, quỹ khí hậu, đến các chương trình hợp tác quốc tế, giúp doanh nghiệp trang trải chi phí chuyển đổi. và Bộ tiêu chí rõ ràng cho từng ngành hàng để doanh nghiệp tự đánh giá mức độ sẵn sàng.
Chuyển đổi xanh không phải gánh nặng, mà là tấm vé để bước vào các thị trường lớn trong 10 – 20 năm tới.

Làm thế nào để nông sản Việt thoát khỏi tư duy bán “nguyên liệu thô giá rẻ”, xây dựng được thương hiệu có bản sắc văn hóa, và biến “sản xuất bền vững” thành lợi nhuận thực tế chứ không còn là một khẩu hiệu xa xỉ?
Tôi luôn tin rằng mỗi trái cây Việt có linh hồn, có tính cách riêng – mùi vị, thổ nhưỡng, câu chuyện của từng vùng trồng là thứ không quốc gia nào sao chép được. Vậy nên, thay vì bán nguyên liệu, chúng ta hãy bán giá trị văn hóa.
Điều doanh nghiệp cần làm là: Xây dựng thương hiệu vùng trồng; Kể câu chuyện của trái cây bằng hình ảnh, bao bì, trải nghiệm; Và để “bền vững” trở thành một phần của lợi nhuận, không phải khẩu hiệu.
Khi làm đúng, giá bán sẽ tự nhích lên. Và lúc đó, nông sản Việt không chỉ hiện diện trên kệ – mà chiếm được cảm tình của người tiêu dùng thế giới.
Link bài viết tại: https://nongthonviet.com.vn/emagazine/ceo-nguyen-dinh-tung-thay-vi-ban-nguyen-lieu-chung-ta-hay-ban-gia-tri-van-hoa-trong-tung-trai-cay-692c4b6d85f5de7d89c4f98a.ngn


