TS Nguyễn Phương Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp xanh TP.HCM (HGBA) khẳng định: Hiện nay có gần 200 doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại Việt Nam, với nhiều tên tuổi lớn như Vinamilk, Phúc Sinh…
Trong đó, 110 doanh nghiệp được lựa chọn thí điểm hạn ngạch để tham gia thị trường các-bon trong giai đoạn thí điểm 2025–2026, có tới 51 doanh nghiệp đến từ ngành xi măng, 34 cơ sở nhiệt điện, 25 cơ sở sắt thép.
Phần lớn doanh nghiệp tham gia chủ yếu với vai trò tuân thủ hạn ngạch, tuy nhiên, từ góc nhìn doanh nghiệp, nhu cầu tham gia thị trường là rất lớn. Có thể nói, cứ 10 doanh nghiệp thì có tới 9 doanh nghiệp mong muốn tham gia, nhưng vấn đề nằm ở chỗ doanh nghiệp cần hiểu rõ vai trò, vị trí của mình trong thị trường này.
Trên thực tế, trước khi thị trường các-bon hình thành, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động chuyển đổi theo yêu cầu của thị trường quốc tế. Phần lớn doanh nghiệp trong hiệp hội đều có hoạt động xuất khẩu, với sản phẩm có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam không thiếu năng lực, thậm chí rất tiên phong trong nhiều lĩnh vực.
Về tài chính, hiện nay nguồn vốn không phải là vấn đề lớn. Các ngân hàng sẵn sàng cung ứng vốn, nhưng điều còn thiếu là các dự án đủ tốt, đủ minh bạch, đủ tiềm năng. Quan trọng hơn, vẫn còn vấn đề về nhận thức, bao gồm nhận thức về cơ hội cũng như các rủi ro liên quan, như rủi ro tài chính và rủi ro pháp lý.
Liên quan đến khung pháp lý, cơ quan quản lý nhà nước đã và đang hoàn thiện với tốc độ rất nhanh. Các văn bản chính sách mới được ban hành gần đây đã tạo nền tảng pháp lý cho việc khởi động thị trường các-bon.
Từ phía doanh nghiệp, nhận thức về thị trường cũng đang dần rõ ràng hơn. Doanh nghiệp hiểu rằng nếu chỉ tham gia ở góc độ tuân thủ thì chủ yếu là chi phí. Trong khi đó, nếu có thể tạo ra tín chỉ các-bon, tức “hàng hóa” của thị trường thì họ có thể lựa chọn bán ở thị trường tự nguyện hoặc thị trường tuân thủ, tùy theo nơi nào mang lại giá trị cao hơn.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay là quyền sở hữu tín chỉ các-bon vẫn chưa thực sự rõ ràng. Đây là một yếu tố khiến doanh nghiệp còn e ngại đầu tư. Bởi khi bỏ chi phí để tạo ra tín chỉ, doanh nghiệp cần chắc chắn về quyền sở hữu và khả năng sinh lời. Bên cạnh đó, để tạo ra một tín chỉ các-bon, doanh nghiệp cần từ 1,5 đến 2 năm, với quy trình kỹ thuật phức tạp, hệ thống MRV và các thủ tục pháp lý đi kèm. Điều này đòi hỏi nguồn lực đáng kể.
Ngoài ra, phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa có bộ phận chuyên trách về các-bon. Vì vậy, dù ý chí tham gia đã có, việc triển khai trên thực tế vẫn còn hạn chế. Có thể khẳng định rằng, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn sẵn sàng tham gia thị trường các-bon.
Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp có thể tham gia theo hướng tuân thủ, nhưng về lâu dài, khi thị trường thuận lợi, họ sẽ chủ động tham gia sâu hơn. Hiện nay, ông Nam nhận định Việt Nam có nhiều lợi thế so với các quốc gia khác nhờ điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội thuận lợi, như nguồn năng lượng tái tạo dồi dào (nắng, gió), sinh khối, và các nguồn tài nguyên khác… Chính vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam sẵn sàng tham gia thị trường các-bon khi cơ hội rõ ràng và doanh nghiệp tin rằng cơ hội này tại Việt Nam là rất lớn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *