Bước sang 2026, khi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của liên minh châu Âu chính thức vận hành, cũng là lúc Việt Nam tăng tốc lộ trình thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon trong nước, “xanh” không còn là khẩu hiệu truyền thông mà đã trở thành một loại tài sản thực thụ, được đo lường, thẩm tra và định giá. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp buộc phải trả lời những câu hỏi mang tính sinh tồn: đo phát thải ra sao, dữ liệu thu thập từ đâu, ai là đơn vị kiểm chứng và làm thế nào để biến áp lực tuân thủ thành lợi thế cạnh tranh.
KIỀU GIANG thực hiện
Trò chuyện cùng Forbes Việt Nam tìm lời giải cho những vấn đề này qua chia sẻ của các chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp: ông Nguyễn Trường Hải – tổng giám đốc Saint-Gobain Việt Nam; ông Tô Thanh Sơn – giám đốc Phát triển bền vững SGS Việt Nam và ông Lê Anh – giám đốc Phát triển bền vững Duy Tân Recycling.
Forbes Việt Nam: Theo quý vị, các yêu cầu về chuyển đổi xanh hiện đang tạo ra những áp lực nào đối với doanh nghiệp Việt Nam? Ở chiều ngược lại, việc đáp ứng các tiêu chuẩn này có thể mang lại lợi thế cạnh tranh ra sao, đặc biệt trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu và tiếp cận các nguồn vốn ESG?
Tô Thanh Sơn: Thực hiện chuyển đổi xanh, từng bước tiến đến ESG đang tạo ra áp lực khá lớn cho doanh nghiệp, và áp lực này không chỉ tập trung ở một vài phân khúc mà diễn ra trên toàn bộ các lĩnh vực.

Thứ nhất, nhu cầu thị trường hiện nay đòi hỏi sự minh bạch về số liệu, đặc biệt là tại thị trường châu Âu, nơi đã áp dụng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon. Trong khi đó, Việt Nam cũng đã ban hành hạn ngạch phát thải cho giai đoạn 2025–2026, thị trường carbon dự kiến vận hành từ 2026 và đi vào chính thức từ 2027–2028. Đây là áp lực rất rõ từ thị trường, bởi khi mọi dữ liệu phát thải đều được lượng hóa, mỗi tấn carbon đều có thể quy đổi thành chi phí, từ đó trực tiếp tạo sức ép lên giá thành sản phẩm.
Thứ hai, áp lực này nằm trong chính chuỗi cung ứng toàn cầu. Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến chi phí, thì hiện nay phải đồng thời chú trọng đến minh bạch thông tin, quản trị rủi ro và giảm phát thải. Doanh nghiệp buộc phải đo lường được giá trị tài chính đầu tư vào hoạt động vận hành kinh doanh trong mối liên hệ với yếu tố phát thải.
Thứ ba là áp lực từ phía tài chính – tín dụng. Các ngân hàng và tổ chức tài chính khi xem xét dòng tiền đầu tư vào doanh nghiệp đều quan tâm rủi ro nằm ở đâu và được quản trị như thế nào. ESG vì vậy trở thành một công cụ, một thước đo quản trị dài hạn, giúp các tổ chức tài chính có cơ sở tự tin giải ngân vào doanh nghiệp.
Bên cạnh đó là yếu tố pháp lý giữa Việt Nam và các thị trường xuất khẩu. Câu chuyện Netzero giờ đây không còn là chủ đề để bàn luận, mà là việc các quốc gia phải cạnh tranh với nhau về mức phát thải khí nhà kính tính trên đầu người, cũng như lượng phát thải trên mỗi đơn vị GDP tạo ra. Từ các so sánh đó, các quốc gia xây dựng những chuẩn tham chiếu (benchmark) và hình thành hành lang pháp lý từ trên xuống, buộc doanh nghiệp phải tuân theo. Đây không còn là câu chuyện truyền thông, mà đã được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp lý bắt buộc thực hiện.
Ở chiều ngược lại, chuyển đổi xanh cũng mang lại lợi thế rõ rệt. Đây là một phần của kinh tế tuần hoàn, nơi doanh nghiệp có thể quản trị rủi ro tốt hơn và kết nối với các nguồn tài chính bền vững có quy mô lớn, lãi suất hợp lý để tối ưu chi phí vận hành và nâng cao lợi nhuận.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái định hình, các doanh nghiệp gần như cùng quay về một vạch xuất phát mới. Doanh nghiệp nào nhận thức sớm sẽ đi nhanh hơn, chủ động hơn và định hình rõ vị thế của mình trong năm, mười năm tới. Chính điều đó trở thành “giấy thông hành” để được thị trường và đối tác đón nhận, đồng thời tạo lực đẩy cho quá trình tái cấu trúc hoạt động theo hướng bền vững và hiệu quả hơn.
Nguyễn Trường Hải: Chúng ta có thể chọn đứng ngoài cuộc chơi. Nhưng nếu đã tham gia, thì phải xác định rõ tham gia với tâm thế và định hướng như thế nào. Tại Saint-Gobain, chúng tôi xác định một tầm nhìn rõ ràng và bền vững, đi kèm các mục tiêu cụ thể và có thể đo lường.

Theo đó, chúng tôi đặt mục tiêu (và đã đạt được) trong năm 2025 giảm 35% năng lượng sử dụng, giảm 50% lượng nước trong quá trình sản xuất, giảm 80% rác thải không thể tái chế và tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu từ nguồn tái tạo lên 30% so với mốc năm 2017. Các mục tiêu này được theo dõi và đo lường định kỳ theo năm, quý, tháng và ngày.
Nếu không có những mục tiêu rõ ràng như vậy, doanh nghiệp sẽ không có cam kết. Chính các mục tiêu này tạo động lực cho các sáng kiến trong tổ chức. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội và truyền cảm hứng cho cộng đồng, đối tác trong việc gìn giữ tài nguyên cho thế hệ sau.
Điều này giúp chúng tôi có nhiều cơ hội hơn để từng bước hình thành các nhà máy trung hòa carbon trong tương lai, gắn với việc kiểm soát phát thải trực tiếp (scope 1) và phát thải từ điện năng tiêu thụ (scope 2).
Quan trọng hơn, điều đó tạo cho chúng tôi sự khác biệt trong cạnh tranh, trong câu chuyện phát triển của mình, và trong cách chúng tôi truyền cảm hứng, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Và như vậy, điều quan trọng trước hết là chọn cho mình một lối đi rõ ràng. Từ lựa chọn đó, sự khác biệt trong cạnh tranh dần được hình thành. Đồng thời, nó cũng mở ra nhiều không gian sáng tạo, nhiều sáng kiến trong quá trình vận hành, qua đó thúc đẩy các hoạt động hướng đến phát triển bền vững.
Lê Anh: Duy Tân Recycling bắt đầu thực hiện tái chế từ năm 2019. Việc kiên định theo định hướng xanh và ESG đã giúp chúng tôi thâm nhập sâu hơn vào thị trường xuất khẩu. Hiện nay, tỷ trọng xuất khẩu sang châu Âu và Hoa Kỳ chiếm khoảng 60%, trong khi thị trường trong nước chiếm 40%.

Lợi thế đến từ hệ thống chứng chỉ mà doanh nghiệp đã xây dựng. Chúng tôi có 26 chứng chỉ, trong đó có những chứng chỉ quan trọng như FDA để xuất khẩu sang Hoa Kỳ, EFSA để xuất khẩu sang châu Âu, và chứng nhận phân hạng khả năng tái chế RecyClass… Gần đây, chúng tôi nhìn thấy rất rõ đây chính là cơ hội.
Thời điểm Duy Tân Recycling bắt đầu làm tái chế, khái niệm này vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Nhưng từ những bước đi ban đầu đó, chúng tôi từng bước hình thành nên những thị trường mới gắn với yêu cầu xanh và ESG, và nhìn thấy rất rõ tiềm năng phát triển dài hạn của hướng đi này.
Forbes Việt Nam: Thưa ông Hải, đâu là những thuận lợi và rào cản khi thực hiện chuyển đổi xanh tại Việt Nam, ở góc độ một doanh nghiệp FDI?
Nguyễn Trường Hải: Là tập đoàn hàng đầu trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, Saint-Gobain đã hiện diện tại Việt Nam hơn 35 năm, đồng hành cùng sự chuyển mình của thị trường qua nhiều giai đoạn. Hành trình đó thể hiện niềm tin dài hạn của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh cũng như tiềm năng phát triển của ngành vật liệu xây dựng trong nước.
Đầu tiên, thuận lợi đến từ việc mục tiêu Net Zero của Saint-Gobain có sự tương đồng với định hướng và cam kết của Chính phủ Việt Nam, với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Thứ hai, chính điều này đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh diễn ra mạnh mẽ và toàn diện. Trong ngành xây dựng, không chỉ các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng mà cả quỹ đầu tư, đơn vị thiết kế, nhà thầu… đều quan tâm nhiều hơn đến công trình xanh.
Theo báo cáo “Tổng quan thị trường công trình xanh Việt Nam” 2025, tính đến hết năm 2025, Việt Nam đã có 780 dự án được chứng nhận công trình xanh, với tổng diện tích sàn hơn 18,6 triệu m2, cao hơn rất nhiều so với các mục tiêu trước đó. Trong năm 2025, có 196 công trình được cấp chứng nhận xanh, với tổng diện tích sàn 4,4 triệu m2, tăng 20% về số lượng và 15% về diện tích sàn so với năm 2024 – phản ánh mức độ quan tâm ngày càng lớn của thị trường và các bên liên quan đối với xây dựng bền vững.
Điểm thuận lợi tiếp theo là Saint-Gobain có quy mô hoạt động tại hơn 80 quốc gia, giúp chúng tôi có nhiều cơ hội chia sẻ và trao đổi các kinh nghiệm, mô hình thành công về hoạt động xanh và phát triển bền vững với các quốc gia khác. Điều này cũng giúp chúng tôi có thể dẫn dắt, chia sẻ lại cho đối tác, khách hàng và cả cộng đồng doanh nghiệp. Qua đó, thúc đẩy phát triển bền vững trong một chiến lược mới mà chúng tôi gọi là “lead and grow” – tăng trưởng đi cùng với vai trò dẫn dắt thị trường, làm gương và lan tỏa câu chuyện chuyển đổi xanh, phát triển bền vững ra toàn xã hội.
Tôi cho rằng không có quá nhiều trở ngại trong việc thực hiện chuyển đổi xanh. Đáng kể nhất là rào cản về tâm lý, khi nhiều người còn e ngại và cho rằng chuyển đổi xanh sẽ tốn kém chi phí. Doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng cách liệt kê ra những gì có thể tiết kiệm hơn về tài nguyên, những gì có thể tái chế được… Quan trọng hơn, cần lắng nghe khách hàng của mình. Điều đó giúp vượt qua rào cản về nhận thức và nhìn thấy rõ hơn các cơ hội trong quá trình chuyển đổi xanh.
Lê Anh: Nhân việc ông Hải đề cập đến rào cản tâm lý, tôi cũng có câu chuyện để chia sẻ. Hiện tôi đang cầm trên tay một vỏ chai nước, là sản phẩm tái chế. Khi nói về kinh tế xanh hay ESG, thực ra không phải điều gì quá xa xôi hay khó hình dung. Chai nhựa này hiện được làm từ 100% nhựa tái chế. Vài tháng trước, nó vẫn còn là rác thải nhựa ngoài thị trường.
Mở ngoặc là, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia xả rác thải nhựa ra đại dương nhiều nhất.
Hiện nay, chúng tôi thu gom những chai nhựa như thế này, đưa về nhà máy xử lý để tạo ra hạt nhựa tái chế, rồi từ những hạt nhựa đó tiếp tục sản xuất ra chai nhựa mới. Đó là công nghệ “bottle-to-bottle”.
Các đơn vị sử dụng loại chai nhựa này đang phải trả chi phí cao hơn khoảng 1,3 lần so với nhựa nguyên sinh. Tuy nhiên, họ lại khá e ngại khi thể hiện rõ trên bao bì rằng đây là sản phẩm tái chế. Trong khi đó, tại châu Âu hay Hoa Kỳ, các doanh nghiệp rất tự hào ghi trên chai những thông điệp như “I’m recycled, please recycle me again” – “Tôi là sản phẩm tái chế, hãy tiếp tục tái chế tôi”.
Ở Việt Nam, nhiều nơi lại cố gắng ghi chữ thật nhỏ, thậm chí không ghi, vì vẫn tồn tại tâm lý cho rằng nhựa tái chế là rẻ tiền, kém chất lượng. Trong khi trên thực tế, để sản xuất được chai nhựa tái chế dùng cho đồ uống, doanh nghiệp phải đáp ứng rất nhiều tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Có những đơn vị phải mất đến hai năm kiểm nghiệm lý hóa tính, gửi mẫu ra nước ngoài – chẳng hạn Hoa Kỳ – để kiểm định.
Đây là một quá trình dài, đòi hỏi sự đồng hành của truyền thông và các cơ quan quản lý để người tiêu dùng yên tâm hơn với các sản phẩm tái chế. Bởi nếu những chai nhựa này không được tái chế đúng cách, chúng có thể mất hàng trăm năm mới phân hủy, để lại gánh nặng rất lớn cho thế hệ sau.
Vì vậy, chúng tôi thường nói với nhau rằng, chúng tôi đang vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo vệ môi trường.
Forbes Việt Nam: Duy Tân Recycling đã kết nối các mắt xích trong chuỗi như thế nào để hình thành một hệ sinh thái tái chế, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa tạo ra giá trị xã hội?
Lê Anh: Làm trong ngành tái chế, chúng tôi có cơ hội nhìn thấy toàn bộ hành trình của một chai nhựa sau khi bị bỏ vào thùng rác. Từ thời điểm đó, chúng tôi bắt đầu làm việc với chính những người thu gom chai ấy.
Ở Đông Nam Á, lực lượng thu gom ve chai khá giống nhau: họ làm công việc này như một sinh kế hằng ngày, nhưng chưa từng được nhìn nhận là một nghề chính thức. Khi có cơ hội phối hợp với các tổ chức như UNDP và UNICEF, chúng tôi cùng họ hỗ trợ đào tạo, nâng cao nhận thức và kỹ năng cho những người thu gom, giúp họ từng bước chuyển từ khu vực phi chính thức sang chính thức, có hợp đồng lao động, có bảo hiểm xã hội.
Điều đó khiến chúng tôi rất vui, bởi tái chế không chỉ tạo ra giá trị vật chất, mà còn tạo ra giá trị xã hội.
Ở một mắt xích khác của chuỗi, khi làm việc với các nhãn hàng, mối quan hệ trước đây chỉ dừng lại ở bán hàng và đồng chai là kết thúc. Nhưng bây giờ thì khác. Các nhãn hàng đồng hành cùng chúng tôi, cùng giáo dục thị trường, cùng đưa ra những sản phẩm và tự hào khi sử dụng nhựa tái chế.
Họ cùng kết nối chúng tôi với các cơ quan, ban ngành, tạo cơ hội để chúng tôi kể câu chuyện của mình, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác.
Vì vậy, điều khiến chúng tôi vui nhất là nhìn thấy một chuỗi từng rời rạc nay được kết nối lại. Bởi vì mục tiêu của chúng tôi là: phát triển kinh tế nhưng không tạo ra rác thải cho các thế hệ sau. Có những doanh nghiệp ngoài thị trường có thể là đối thủ của nhau, nhưng khi cùng hướng đến mục tiêu xanh và ESG, họ trở thành những người bạn, vì tất cả cùng chung một mục tiêu: làm cho đất nước xanh, sạch, đẹp hơn.
Nguyễn Trường Hải: Tôi cho rằng những chia sẻ của ông Lê Anh, cùng thông điệp: “Chúng ta phát triển kinh tế nhưng không tạo ra rác thải cho các thế hệ sau” là một câu chuyện rất truyền cảm hứng. Nếu tất cả doanh nghiệp đều thực hiện theo cách đó – chứ không chỉ một vài doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – thì chúng ta thực sự có thể chung tay trong quá trình xanh hóa và thúc đẩy tái chế.
Trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng cũng tương tự. Chúng tôi nỗ lực để việc phát triển luôn đi kèm với tạo ra tác động tích cực: giảm năng lượng sử dụng trong xây dựng, hạn chế ảnh hưởng đến môi trường, giúp mỗi công trình, mỗi ngôi nhà tại Việt Nam trở nên xanh hơn thông qua việc xanh hóa các vật liệu đầu vào.
Forbes Việt Nam: Trong quá trình kiểm định hồ sơ ESG cho doanh nghiệp, đâu là vấn đề phổ biến nhất khiến nhiều doanh nghiệp tin rằng họ “xanh”, nhưng khi đưa vào đánh giá theo chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn của ngân hàng thì lại chưa đạt?
Tô Thanh Sơn: Tôi nhận thấy tồn tại một khoảng cách khá rõ giữa việc doanh nghiệp tin rằng mình “đã xanh” và khả năng chứng minh điều đó theo các chuẩn mực quốc tế. Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư đáng kể tiền bạc và công sức cho các hoạt động môi trường, thể hiện trách nhiệm với xã hội và thế hệ sau. Tuy nhiên, cách triển khai vẫn còn rời rạc, manh mún và còn nhiều điểm cần điều chỉnh.
Nhiều doanh nghiệp coi các hoạt động xanh là những dự án nhỏ lẻ, mang tính truyền thông hoặc thực hiện như một nghĩa vụ pháp lý, đáp ứng yêu cầu từ các bên liên quan, thay vì nhìn nhận đây là một chương trình dài hạn được tích hợp vào chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp. Thiếu đi tư duy đầu tư đồng bộ, khiến khoản chi cho chuyển đổi xanh chưa thực sự tạo ra giá trị lâu dài. Hệ quả là doanh nghiệp bỏ ra nhiều nhưng thu lại ít, vẫn không thể được công nhận là “xanh”. Khi hồ sơ gửi đến ngân hàng, doanh nghiệp thường bị từ chối.
Vấn đề cốt lõi nằm ở dữ liệu. Thứ nhất, ngân hàng, thị trường hay các tổ chức tài chính xanh đều yêu cầu phải có “tiếng nói chung” thông qua ngôn ngữ của tiêu chuẩn, của bằng chứng, và phải có một bên độc lập xác minh để chịu trách nhiệm về giá trị dữ liệu. Đây là điểm mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu. Khi được hỏi về dữ liệu, báo cáo có thể nói là “có”, nhưng dữ liệu thực tế lại chưa chắc đã tồn tại một cách đầy đủ và đáng tin cậy.
Thứ hai là độ rộng và độ dày của dữ liệu. Doanh nghiệp thiếu dữ liệu liên tục theo thời gian để có thể so sánh cùng kỳ giữa các tháng, các năm. Khi truy vấn nguồn gốc dữ liệu, nhiều trường hợp không có hóa đơn, không có thiết bị đo đếm, không có hệ thống lưu trữ để tích hợp và chứng minh. Vì vậy, khi nhận một báo cáo ESG, ngân hàng sẽ đặt câu hỏi: làm sao họ có thể tin tưởng vào năng lực quản trị dữ liệu để quyết định giải ngân? Câu hỏi này nhiều doanh nghiệp vẫn chưa trả lời được.
Ngoài ra, câu hỏi “ai đã xác minh và chịu trách nhiệm cho dữ liệu này?” cũng thường bị bỏ ngỏ. Trên thế giới, việc xác minh luôn dựa trên các tiêu chuẩn, và chính các tiêu chuẩn đó tạo ra niềm tin để các bên đưa ra quyết định nhanh chóng và an toàn.
Về yếu tố nhận thức, nhiều doanh nghiệp hiện nay đang coi tiêu chuẩn xanh là điểm bắt đầu, tức là phải đạt được tiêu chuẩn trước. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không hợp lý. Tiêu chuẩn nên được xem là đích đến. Doanh nghiệp cần bắt đầu từ các hoạt động cụ thể như tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, tái chế… xây dựng lộ trình từng bước tiến đến chuẩn mực.
Nếu coi tiêu chuẩn là điểm bắt đầu, doanh nghiệp dễ nản chí khi bỏ nhiều chi phí nhưng chưa đạt được yêu cầu. Ngược lại, nếu xác định rõ những việc mình có thể làm tốt và dễ làm ngay từ đầu, đặc biệt là làm đúng về mặt dữ liệu, thì hệ thống sẽ không trở nên cồng kềnh. Khi dữ liệu được xây dựng bài bản ngay từ đầu, quá trình thẩm tra và xác minh sẽ trở nên thuận lợi, có thể đạt kết quả ngay từ lần đầu tiên, tránh phải làm đi làm lại, tốn thêm thời gian và chi phí.
Forbes Việt Nam: Thưa ông Hải, làm sao để theo đuổi tiêu chuẩn xanh mà vẫn đảm bảo “sức khỏe” về tài chính?
Nguyễn Trường Hải: Đây là câu hỏi mà nhiều doanh nghiệp có thể trăn trở. Nhưng từ thực tế tại công ty mình, tôi tìm thấy hàng loạt ví dụ – những câu chuyện cụ thể về việc thực hiện xanh hóa mà vẫn tối ưu được chi phí.
Việc đầu tiên không phải là nghĩ đến chuyện giảm chi phí. Khi có yêu cầu giảm 30% nguyên liệu nhiệt hóa thạch trong sản xuất – như dầu, than – và chuyển sang các nguyên liệu thân thiện hơn như sinh khối (biomass) hoặc các nguồn tái tạo, thì trong quá trình đó, sức mạnh tập thể cùng sự thúc đẩy từ ban lãnh đạo sẽ giúp tìm ra những giải pháp mà, ngay tại thời điểm hiện tại, chi phí đã tốt hơn so với việc phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Vừa thân thiện với môi trường, vừa tận dụng được vật liệu sẵn có tại chỗ, lại có chi phí cạnh tranh hơn.
Thí dụ, Saint-Gobain có một nhà máy sản xuất tấm xi măng sợi DURAflex (Fiber Cement), trước đây sử dụng nguyên liệu hóa thạch cho hệ thống cung cấp hơi với quy mô rất lớn. Khi làm việc với các đối tác để tìm kiếm giải pháp sử dụng nguyên liệu sinh khối tại địa phương, chúng tôi tận dụng các vật liệu dư thừa, bị bỏ đi như gỗ dăm và các phế phẩm tương tự làm nhiên liệu thay thế. Từ đó không chỉ giúp khu vực đó có thêm nguồn thu, mà còn giúp cải thiện chi phí vận hành so với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Như vậy, doanh nghiệp có thể đồng thời đạt được hai mục tiêu: xanh hơn, phát triển bền vững hơn, và chi phí cũng cạnh tranh hơn.
Forbes Việt Nam: Thưa ông Sơn, doanh nghiệp cần chuẩn bị gì từ khâu dữ liệu, báo cáo và quy trình nội bộ để việc kiểm định diễn ra thuận lợi và ít tốn kém hơn?
Tô Thanh Sơn: Thực ra, kiểm định và chứng nhận không phải là rào cản, mà là một “ngôn ngữ chung” để các bên tìm thấy nhau: ngôn ngữ của thị trường, của tài chính – tín dụng ngân hàng và của doanh nghiệp. Thay vì chứng minh bằng lời nói, tiêu chuẩn cùng hoạt động kiểm định, chứng nhận chính là kênh thông tin thông qua kiểm chứng độc lập, giúp thị trường xác định và tin tưởng vào doanh nghiệp. Khi hiểu như vậy, doanh nghiệp sẽ có định hướng chuẩn bị dữ liệu tốt ngay từ đầu.
Đó là số liệu thì cần được coi trọng và quản lý một cách có cấu trúc. Doanh nghiệp phải xác định rõ mình có dữ liệu hay không, được đo lường theo ngày hay theo tháng, lấy từ hóa đơn nào, phát sinh từ đâu và có khả năng truy vết nguồn gốc hay không.
Thực tế hiện nay, tình trạng đứt gãy dữ liệu tại nhiều doanh nghiệp Việt vẫn khá phổ biến. Khi cần truy xuất lại số liệu của một năm tài chính trước đó, doanh nghiệp thường mất rất nhiều thời gian tìm kiếm, làm gián đoạn quá trình xác minh.
Doanh nghiệp cũng thường thiếu một cơ sở nền (baseline) để biết mình đang ở đâu, từ đó xác định được vấn đề nào cần ưu tiên. Bên cạnh đó, khi lập báo cáo, doanh nghiệp có xu hướng “tô màu” quá đẹp. Việc này lại khiến dữ liệu không thể xác minh được.
Một vấn đề khác là báo cáo thường được viết theo cách doanh nghiệp hiểu, chứ không viết theo chuẩn mực mà bên thẩm tra hoặc ngân hàng yêu cầu. Vậy nên, khi lập báo cáo cho ngân hàng, doanh nghiệp cần tìm hiểu chuẩn mực mà ngân hàng áp dụng để xây dựng báo cáo theo đúng cấu trúc đó. Nếu không, khi thẩm tra sẽ dễ bị lệch chuẩn.
Doanh nghiệp cũng nên xây dựng một cấu trúc phân chia trách nhiệm rõ ràng trong nội bộ: dữ liệu đến từ nguồn nào, ai là người thu thập, ai tính toán, ai thẩm tra và ai phê duyệt. Thực tế, việc này không hề cồng kềnh. Chỉ cần bắt đầu từ những dữ liệu sẵn có và những hoạt động doanh nghiệp đang làm tốt nhất, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững trong năm, mười năm tới để mọi người cùng nhìn thấy và đồng thuận. Khi đó, việc bổ sung thêm trách nhiệm liên quan đến dữ liệu sẽ không tạo áp lực mà trở thành một phần tự nhiên trong vận hành. Khi dữ liệu được chuẩn bị bài bản ngay từ đầu, quá trình xác minh sẽ diễn ra nhanh chóng và thuận lợi.
Vấn đề không nằm ở độ khó, mà ở cách doanh nghiệp bắt đầu: ưu tiên làm báo cáo khi dữ liệu chưa sẵn sàng, triển khai các dự án nhỏ lẻ, tốn kém, phải làm đi làm lại, từ đó dễ sinh ra nản. Vì vậy, việc điều chỉnh cách tiếp cận là cần thiết, để chuyển đổi xanh không còn bị nhìn như một gánh nặng phát sinh, mà trở thành một hoạt động thiết yếu, góp phần vào quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp.
Forbes Việt Nam: Nếu cần gửi một thông điệp ngắn gọn đến các doanh nghiệp đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi xanh, quý vị sẽ gợi ý họ nên bắt đầu từ đâu?
Lê Anh: Theo tôi, một doanh nghiệp muốn thực sự đi theo con đường “xanh”, điều đầu tiên phải là cam kết thực hiện. Thứ hai là chủ động tìm kiếm những mô hình phù hợp, cả trong nước lẫn quốc tế, để học hỏi và làm theo.
Bản thân chúng tôi, để đạt được “xanh” như hôm nay, cũng đã trải qua rất nhiều bài học và không ít chi phí phải trả. Vì vậy, chúng tôi chọn cách xuất hiện, chia sẻ lại những kinh nghiệm đó, để truyền cảm hứng cho nhiều doanh nghiệp khác cùng thực hiện chuyển đổi xanh, để đất nước này xanh hơn, và để thế hệ tương lai có một môi trường sống tốt hơn.
CÁC TRÍCH DẪN NỔI BẬT TRONG BÀI:
“TIÊU CHUẨN VÀ CHỨNG NHẬN XANH KHÔNG PHẢI LÀ KHỞI ĐIỂM, MÀ LÀ ĐÍCH ĐẾN. DOANH NGHIỆP NÊN BẮT ĐẦU TỪ NHỮNG VIỆC ĐƠN GIẢN NHẤT, NHỮNG VIỆC MÌNH LÀM TỐT NHẤT, VÀ ĐẶC BIỆT LÀ LÀM ĐÚNG KHÂU DỮ LIỆU NGAY TỪ ĐẦU.” – Tô Thanh Sơn, giám đốc Phát triển bền vững SGS Việt Nam
“TRÊN HÀNH TRÌNH CHUYỂN ĐỔI XANH, VAI TRÒ CỦA LÃNH ĐẠO LÀ XÁC ĐỊNH RÕ TẦM NHÌN VÀ LỰA CHỌN CỦA MÌNH, BẮT ĐẦU TỪ NHỮNG MỤC TIÊU CỤ THỂ. CHÍNH ĐIỀU ĐÓ GIÚP DOANH NGHIỆP VỮNG VÀNG TRONG LỘ TRÌNH THỰC HIỆN, ĐỒNG THỜI TẠO DỰNG NIỀM TIN CHO NHÂN VIÊN VÀ KHÁCH HÀNG ĐỂ CÙNG TIẾN VỀ PHÍA TRƯỚC.” – Nguyễn Trường Hải, tổng giám đốc Saint-Gobain Việt Nam
“CHÚNG TA PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHƯNG KHÔNG TẠO RA RÁC THẢI CHO CÁC THẾ HỆ SAU.” – Lê Anh, giám đốc Phát triển bền vững Duy Tân Recycling


